.

Tháng 5 về thăm quê Bác

.
14:41, Thứ Hai, 18/05/2020 (GMT+7)
(QBĐT) - Tôi  về thăm quê Bác đúng dịp sen đang mùa hoa  nở.  Một không gian Việt, một làng quê Việt  đã quy tụ thu nhỏ ở đây, kết tinh  lại bao vẻ đẹp bình dị  của những nếp nhà mái  tranh, tường tre ấm áp tình người xóm mạc. Mới biết tình quê mộc mạc đã ngấm sâu vào Bác cả những câu dân ca như mạch nguồn nuôi dưỡng Người bằng những phong vị từ văn hóa dân gian đến với văn hóa bác học. Năm 1906, Người rời làng Sen theo cha vào Huế và phải đến năm 1957 Người mới trở lại thăm quê nội.  
 
Chúng tôi về Hoàng Trù quê ngoại của Bác, xưa gọi là làng Chùa - đây là nơi cất tiếng  khóc chào đời của cậu bé Nguyễn Sinh Cung. Ngôi nhà sinh ra Bác gồm ba gian, hướng nhà mở về phía nam. Gian nhà ngoài và gian nhà trong được ngăn cách bằng một bức phên nứa. Năm 1883 khi ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan làm lễ thành hôn, ông bà Hoàng Xuân Đường đã dựng ngôi nhà này trong vườn của mình cho ở riêng. Gian nhà ngoài là nơi học tập và nghỉ ngơi của ông Nguyễn Sinh Sắc, đầu hồi là một chiếc án thư, trên án có nghiên mực và ống đựng bút  lông. Đây là nơi hàng ngày ông Nguyễn Sinh Sắc mài dùi kinh sử và đón ông Hoàng Xuân Đường sang trao đổi văn chương, các điển tích điển cố, bình văn và bình thơ. 
Nhà Bác ở  làng Sen
Nhà Bác ở làng Sen
Dân làng Chùa còn nhớ kỳ thi Hương khoa Giáp Ngọ (1894) lúc cậu bé Nguyễn Sinh Cung đang cùng bè bạn câu cá bên hồ sen thơm ngát là lúc tin ông Nguyễn Sinh Sắc đậu  cử nhân trường Nghệ lan nhanh về làng Chùa. Cậu hớn hở chạy ra đồng tìm mẹ báo tin. Bà Hoàng Thị Loan vẫn bình thản cấy hết đám ruộng. Bà vui vẻ nói với mọi người: “Ông Nghè, ông Cống cũng sống về ăn”. Nói vậy thôi nhưng bà thoăn thoắt làm xong dắt tay cậu bé  Cung về sớm lo nấu nước chè xanh, rang mẻ lạc thơm giòn để đãi bà con làng xóm đến chung vui.
 
Gian nhà thứ hai là gian buồng nơi nghỉ ngơi của bà Hoàng Thị Loan. Ở đây có kê một chiếc giường tre nhỏ đơn sơ  và tấm vải màn nhuộm nâu do bà tự dệt lấy. Chính tại ngôi nhà nhỏ này bà đã sinh ra ba người con: Năm 1884 là đứa con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh hiệu là Bạch Liên, năm 1888 sinh con trai thứ là Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn  Tất Đạt).
 
Và một sáng bình minh năm Canh Dần (1890) khi mặt trời tháng  5 bắt  đầu  hắt những tia sáng bình minh rực đỏ chân trời dãy núi Đại Huệ và hương sen thơm ngát từ  bàu sen ùa về, người con thứ ba Nguyễn Sinh Cung mà dân địa phương thường gọi là Nguyễn Sinh Côông (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) cất tiếng khóc chào đời. Ở đây còn lưu giữ chiếc rương gỗ, món quà hồi môn bà ngoại cho bà Hoàng Thị Loan ngày đi lấy chồng để đựng gạo và các vật dụng quý.
 
Ở gian thứ ba có một bộ dụng cụ dệt vải. Ngoài công việc đồng áng, đêm đêm sau khi lo cơm nước cho chồng con, bà Hoàng Thị Loan lại  ngồi vào khung cửi miệt mài dệt những tấm vải. Bà như dệt vào đó những tháng ngày lam lũ  nhưng ngời lên bao hy vọng về con đường học hành thi cử của chồng và sự khôi ngô tuấn tú chăm học của những đứa con, đặc biệt là sự thông minh sáng dạ của cậu bé Cung. Tôi mới hiểu vì sao kiến trúc sư thật có lý và tinh tế chọn mẫu chiếc khung cửi cách điệu làm giá đỡ khi xây mộ bà Hoàng Thị Loan.   
Mộ bà Hà Thị Hy (Bà nội Bác Hồ)
Mộ bà Hà Thị Hy (Bà nội Bác Hồ)
Ngày 9-12-1961 sau hơn 50 năm xa cách về thăm quê lần thứ hai, Bác Hồ mới có dịp thăm lại ngôi nhà nơi người cất tiếng khóc chào đời và sống những năm đầu ấu thơ. Vì năm 1957 khi lần đầu về Nam Đàn, Bác chỉ  mới thăm quê nội vì đường sang quê ngoại chưa được sửa chữa và đến năm 1959 thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Ty Văn hóa Nghệ An đã khôi phục lại căn nhà này trên nền đất cũ để làm di tích lưu niệm. Người  làng Chùa kể lại  rằng: Khi về thăm nhà, Bác đi từ gian này đến gian kia.
 
Bác dừng lại giây lát trước chiếc án thư để một đôi tràng kỷ nơi xưa cụ Hoàng Xuân Đường ngồi giảng sách.  Bác bùi ngùi nhìn chiếc gường thấp, nơi người mẹ thân yêu thường ôm Bác vào lòng. Bác nhìn cái rương đựng lương thực có cái  lỗ nhỏ mà ngày ấu thơ Bác và anh cả Khiêm thường thò ngón tay trỏ vào  ngoáy ngoáy. Bồi hồi Bác nói: “Các cô, các chú thật khéo giữ, chiếc rương gỗ ngày xưa vẫn còn...” Sau đó Bác ra ngồi xổm trước thềm nhà thân mật nói chuyện với bà con làng Chùa. Bất ngờ bác gặp lại ông Nguyễn Thuyên, người bạn câu cá ngày nhỏ, Bác nhắc lại kỷ niệm một lần đi câu, bè bạn giật lưỡi câu rách vành tai. Khi nghe bạn thưa Chủ tịch, Bác thân mật bảo: “Cứ gọi tôi là Cung như ngày trước”.
 
Tạm biệt quê ngoại Hoàng Trù, chúng tôi theo con đường làng sang thăm quê nội làng Sen của Bác. Sau nhiều năm dùi mài đèn sách và trải qua hai lần thi Hội, ông Nguyễn Sinh Sắc đã đậu Phó bảng khoa Tân Sửu (1901). Theo quy định dưới  triều Thành Thái, người đậu đại khoa được hưởng lễ “Vinh quy bái tổ”. Khi triều đình đưa về đến Vinh, tỉnh  lỵ Nghệ An, chức sắc và dân làng Sen mang cờ,  võng xuống rước quan Phó bảng về quê. Ông Nguyễn Sinh Sắc đã từ chối mọi nghi thức rồi cuốn cờ, võng cùng mọi người đi bộ về làng.
 
Vinh dự tự hào khi lần đầu tiên trong làng có người đậu đại khoa, và cũng là để bày tỏ lòng cảm thông trước cảnh ngộ gà trống nuôi con của ông, làng đã tặng ông mảnh ruộng học điền rộng 4 sào 14  thước Trung bộ và mua một ngôi nhà gỗ 5 gian từ xã Xuân La về dựng rồi trân trọng xuống Hoàng Trù mời 4 cha con về làng sinh sống. Chính vì vậy vào ngày 16-6-1957 trong dịp về thăm quê lần đầu khi vào thăm nhà, Bác Hồ đã chỉ vào ngôi  nhà mà nói: “Đây là nhà ông Phó bảng”.   
 Bàn thờ trong nhà Bác
Bàn thờ trong nhà Bác
Người làng Sen không thể nào quên được câu nói rưng rưng của Bác Hồ khi Người đứng trước bàn thờ của mẹ: “Xưa nhà Bác nghèo bàn thờ chỉ làm bằng tre không có chân, mà chỉ dùng hai miếng gỗ  đóng giá vào hai bên cột đỡ bàn thờ lên, liếp bằng nứa trên trải bằng chiếc chiếu mộc”.  Gian thứ nhất ông Nguyễn Sinh Sắc kê một bộ phản gỗ được ngã từ cây đa làng làm nơi tiếp khách. Khách của ông thường là những người bạn hữu khoa bảng, những chiến sỹ yêu nước đương thời như: Phan Bội Chau, Vương Thúc Quý,  Đặng Nguyên Cẩn .... Cậu bé nguyễn Sinh Cung thường được làm công việc tiếp nước, hầu trà cho các cụ.
 
Qua những buổi lắng nghe các cụ  xướng họa, bình văn, đàm đạo thời cuộc, cậu nhận thức về truyền thống lịch sử văn hóa, về nổi thống khổ nước mất nhà tan như một dòng chảy tự nhiên ngấm dần vào tâm hồn Nguyễn Sinh Cung, để từ đó cậu sớm nảy nở ý chí cứu nước cứu dân. Gian thứ ba là gian buồng nơi nghỉ ngơi của người con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh. Gian thứ tư là nơi nghỉ và  đọc sách của ông Nguyễn Sinh Sắc, gian thứ năm là nơi nghỉ của hai anh em Nguyễn Sinh khiêm và Nguyễn Sinh Cung. Ngoài ra còn có ngôi nhà ngang ba gian là nơi nấu ăn của gia đình Bác. Nội trợ là chị cả Thanh, còn cậu bé Cung thì gánh nước ở giếng Cốc về giúp chị thổi cơm. 
 
Khi về thăm quê nội, Bác bồi hồi chào hỏi bà con rồi đi theo lối riêng. Bác bảo: “Lối đi của  nhà tôi ngày trước ở đàng này”.  Ra thăm  sân vườn, Bác chỉ chỗ nào có hàng cau năm cây, chỗ nào có cây ổi đào nhiều quả ngọt. Bác chỉ bên nào có hàng rào dâm bụt, bên nào có hàng rào chè  mạn hảo. Đi trên con đường nhỏ rợp  bóng tre của làng, Bác hỏi thăm giếng Cốc và lò rèn cố Điền.  Hôm đó Bác đã nói chuyện với bà con Kim Liên tại gốc đa bên con đường đi vào xóm Phú Đầm. Bác cho các cháu nhỏ kẹo và gửi trà cho phụ lão. 
 
Về thăm quê Bác, chúng tôi  đã lên thắp hương phần mộ bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu Bác Hồ, tại núi Động Tranh thuộc dãy  Đại Huệ... Đứng nơi đây có thể bao quát cả một vùng quê rộng lớn sơn thủy hữu tình nhìn thẳng về làng Chùa, làng Sen...
 
Tháng 5 ở quê Bác, tôi xúc động khi gặp nhiều đoàn khách ở khắp mọi miền đất nước đủ các lứa tuổi từ các cụ già đến các cháu nhỏ quy tụ về đây về làng Sen: Quê chung!   
 
Nguyễn Ngọc Phú
 
 
,