.

Khói đốt đồng

.
10:19, Thứ Hai, 17/09/2012 (GMT+7)

(QBĐT) - Bâng khuâng nhớ khói đốt đồng, nhớ bông hoa gạo rực hồng ngõ quê, nghe da diết mà ngọt ngào. Cái bức tranh quê bạt ngàn xanh bởi cây lá ấy, nếu không có ngọn khói đốt đồng sẽ trầm lắng và buồn tẻ biết bao.

Ảnh: M.Q
Ảnh: M.Q

Tuổi thơ tôi gắn chặt vào quê nghèo, gắn chặt vào chái rơm đụt mưa trú nắng, vào những trò chơi dân dã ngây thơ. Lớn hơn một chút, theo mẹ ra đồng chơi với trẻ con hàng xóm. Lỉnh kỉnh xách theo mớ đồ hàng bằng nhựa xanh đỏ đủ màu, chọn một bóng cây mát mẻ nấu cơm, thổi canh. Ngày đó, tôi học được ở những đứa trẻ lớn hơn mình những loại rau mọc hoang ăn được như dền tía, dền xanh, rau má, mã đề, càng cua, nút áo... Phân biệt được rau nào, tên nào. Khi lên chín, lên mười đã biết bắt ốc, mò cua. Biết phụ mẹ nhổ cỏ cho vuông cải, biết sâu rau màu xanh nhưng hiền, sâu róm màu nâu đen có lông châm rất ngứa, biết gom rơm rạ cho cha đốt đồng.

Ngày ấy cả làng tôi đều đun bếp củi, cành nhánh cây khô, tre rều. Rơm là thức đun cực chẳng đã, bởi nó giúp trâu bò có cái ăn trong mùa đông giá. Ngoài phần rơm dự trữ cho bếp đun và gia súc ăn, người ta đốt hết chúng để làm phân bón cho đồng ruộng, hoa màu.

Ngày ấy làm gì có máy gặt đập liên hợp, khi vào mùa nông dân làng tôi tay ai cũng lăm lăm cái liềm, cây đòn xóc. Mùa gặt nhọc nhằn nhưng vui sao kể xiết. Đàn bà, con gái gập lưng ngang đồng thi nhau cắt cắt, xếp xếp. Đàn ông, con trai hùng hục bó những bó lúa lớn rồi dùng đòn xóc xóc vào hai bó lúa gánh đến nơi truốt lúa. Nói là truốt chứ truốt thế nào được, đập thì hạt lúa mới rơi ra nhanh và nhiều. Gặt đến đâu đập đến đó, làm không kịp thì ngày hôm sau tiếp tục. Một tấm bạt lớn vây kín ba mặt khung gỗ để khi cầm bó lúa đập mạnh xuống thành gỗ lúa không bay đi xa. Khi nhánh lúa không còn hạt nào người ta vứt chúng ra xa.

Những ngày ấy thì mẹ và chị gái tôi lo nấu cơm, nước cho bạn gặt. Những khúc gỗ tươi chặt ở mom sông được cắm xuống đất đồng làm ông kiền để mẹ nấu nướng. Khói củi tre, khói rơm tươi cay cay, nồng nồng hòa quyện với mùi chiên xào làm cho bọn trẻ chúng tôi thèm thuồng biết bao.

Chiều về, trên vai ai cũng trĩu những gánh lúa vàng óng a óng ánh. Người người chuyện trò rôm rả cả một khúc đê dài. Ngày hôm sau trước lúc ra đồng cha gánh lúa ra sân phơi giúp mẹ. Cha vác theo cây xiên bóng lưỡng được làm từ cành gạc nai. Cây xiên dài chừng mét rưỡi, to bằng cổ tay người lớn, có hai nhánh tự nhiên. Đó là công cụ hữu hiệu nhất để cha trải rơm lúa mỏng ra cho mau khô và gom chúng  lại.

Cây xiên của cha không thể gom sạch rơm rạ được nhờ thế mà tôi có việc để làm. Rồi khi cha đốt đồng cũng là lúc tôi gom rơm lẻ tẻ đốt đồng. Đống rơm của cha to như núi còn đống rơm của tôi bé tẹo. Tôi muốn đốt chỗ nào cũng được, đốt chỗ nào cha cũng cười, cha bảo chỗ ấy mai mốt có bông lúa to.

Bây giờ cha tôi không còn, mẹ không ở quê nữa, gia đình tôi đã theo anh chị lên phố. Nhớ lắm những chiều đốt đồng mà không biết làm sao. Bây giờ tôi cũng biết cây cần khói như người cần oxy vậy. Nhưng phải là khói của rơm rạ cơ chứ không phải khói của rác thải độc hại.

Sung sướng biết bao mỗi khi được về quê xưa, thăm chòm xóm họ hàng, thắp nén nhang lên mộ cha. Nhìn khói hương bay lượn lờ, tưởng như đang cùng cha gom rơm đốt đồng, mắt tôi cay sè, nhớ thương.

                                                                    Lý Thị Minh Châu









 

,