.

Khúc tưởng niệm của máu và hoa

.
08:03, Thứ Hai, 30/07/2012 (GMT+7)

(QBĐT) - Ra đi từ phương Nam đang vào mùa mưa, dừng chân trên phần thắt lại của lãnh thổ Việt Nam hình chữ S, chúng tôi gặp một phần của dải đất miền Trung kề lưng vào núi rừng hùng vĩ ở phía Tây, ngoảnh mặt ra biển Đông rộng lớn đang bời bời nắng gió của mùa hạ.

Từ đó, trong những ngày đọc và thấy chuyện đất, chuyện người nơi đây, không ai trong chúng tôi biết đích xác giây phút nào là lúc tất cả đều đã mến thương miền quê kiên dũng, ân tình ấy. Để rồi được nghe trong âm vang của mỗi địa danh vừa đi qua âm hưởng hào hùng, bi tráng của những năm tháng đất nước viết tên mình bằng máu và hoa...

Suốt một buổi chiều bên dòng Nhật Lệ, chúng tôi nghe kể về con đường Quyết Thắng của tỉnh Quảng Bình. Giữa những ấn tượng về cua chữ A, ngầm Tà Lê, đèo Phulanhích... là cái chết của tám nam nữ thanh niên xung phong tại kilômet mười sáu của con đường có ý nghĩa chiến lược đặc biệt này. Một khối đá khổng lồ từ núi sạt xuống đã che lấp cái hang đá-nơi tám nam, nữ thanh niên xung phong trú ẩn đợt không kích của địch.

Họ đã trải qua sự đau xót thét gào giữa ranh giới của sự sống và cái chết trong cái hang đá bị bịt kín bởi khối đá hàng vạn tấn vào ngày mười bốn tháng mười một năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai. Tên của họ đã được khắc trên tấm bia lớn ở trước khối đá với dòng chữ Tổ quốc ghi công. Họ là Tơ, Mai, Loan, Lương, Vũ, Huệ, Kỳ, Phương và chưa ai qua tuổi hai mươi. Và, các chị, các anh linh thiêng giữa không gian mình đã sống và chết.

Thành cổ Quảng Trị đón chúng tôi bằng sự lặng im uy nghiêm của đài tưởng niệm những người đã ngã xuống hôm qua, và sự cởi mở chân chất của những người đang sống hôm nay. Giữa lòng thị xã Quảng Trị nhỏ bé, hiền hòa nép mình bên dòng Thạch Hãn vinh quang, chúng tôi đứng ở tầm cao của Đài tưởng niệm Thành cổ, nhìn con đường rợp màu phượng đỏ, những viên gạch vỡ nhuốm màu rêu phong hoài niệm, và đọc lại trang sử vàng từ trong khói lửa mịt mù của cuộc chiến tranh bốn mươi năm về trước.

Tám mươi mốt ngày đêm của mùa hè đỏ lửa một ngàn chín trăm bảy mươi hai đã làm nên một phần lịch sử của đất nước, đưa thị xã Quảng Trị trở thành một thành phố tuẫn đạo của thế giới, là tượng đài bất tử về khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất của dân tộc Việt Nam. Trong tám mươi mốt ngày đêm ấy, mỗi ngày trung bình có một trăm chiến sĩ Giải phóng quân hy sinh ở đây. Mọi thứ trong sự cày xới của đạn bom không còn nguyên vẹn, từ mặt đường, viên gạch vỡ nơi tường thành, nóc nhà nhỏ, gốc cây, chùa chiền, nhà thờ, ngôi trường Bồ Đề nổi tiếng... Hố bom, mảnh đạn dễ nhiều hơn cả ngàn cỏ lau.

Dưới cỏ lau ấy, trong lòng đất ấy có rất nhiều hài cốt liệt sĩ mà đến hai mươi năm sau, trong ngày hòa bình, những người đang sống vẫn thường gặp các anh mỗi khi làm vườn, dựng nhà, đào giếng... Những chiếc trang thờ nhỏ nhắn có hầu hết trong những vườn nhà ở Thành cổ để hôm nay chúng tôi được nghiêng mình trước vong hồn các chiến sĩ hữu danh và vô danh. Đâu đấy dưới dòng Thạch Hãn, bốn mươi năm về trước đã nhận lấy biết bao máu xương của những người lính vượt sông vào Thành cổ.

Họ đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, và vĩnh viễn nằm lại dưới Thành cổ, trong dòng Thạch Hãn khi chỉ mười tám, đôi mươi, thậm chí có người còn chưa được đồng đội biết tên. Nhìn lên mái tam quan cách điệu và chiếc bút tháp cao vút như nén nhang vĩnh hằng giữa khung trời Thành cổ, chúng tôi rưng rưng trong niềm biết ơn vô hạn và sự ngưỡng vọng thiêng liêng trước những người đã ngã xuống vì Tổ quốc hôm qua và hôm nay. Máu của các anh đã đổ để giữ lấy mảnh đất này, để chùm phượng vỹ nơi này càng thắm đỏ. Giữa ban mai đang lên ở Thành cổ, chúng tôi nghe ngân nga trong sóng nước của dòng Thạch Hãn niềm khắc khoải yêu thương: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm” (Lê Bá Dương).

Phải đến bây giờ chúng tôi mới biết đến những người mẹ Gio Linh ở tỉnh Quảng Trị có chồng, con là chiến sĩ cách mạng. Đó là những người mẹ nghèo mặc áo thay vai, cuốc đất trồng khoai nuôi chồng, con đánh giặc trường kỳ. Để rồi một ngày kia kẻ thù bắt bớ, tra khảo và hành hình con mẹ nơi làng họp chợ, mẹ đã đến nơi địch bêu đầu các anh, mang con mình về với quê cha đất tổ.

Sự hy sinh của các anh, nỗi đau trong lòng mẹ nào dễ đo được. Gio Linh có hàng trăm người mẹ như thế, đầu chít khăn xanh đã bạc màu, chân chất nghèo khó nhưng giữ mãi tấm lòng kiên trung, dẫu tấm lưng mẹ đã còng vì tuổi tác và nỗi đau mất chồng, con trong những cuộc chiến tranh. Bên những ngôi nhà của các mẹ, hàng rào điện tử Mc.Namara vẫn còn đó nhưng giờ đây đã có thêm những lô cao su xanh tốt, xóm làng đã có điện thắp sáng, những con thuyền đánh cá của làng quê nơi miền chân sóng đã lớn mạnh thêm. Dốc Miếu, Cồn Tiên... vẫn chưa hết những nhọc nhằn, lam lũ của người đang sống và vẫn còn đâu đó trên các lối mòn, hố hầm, bờ ruộng, gốc cây, trảng cát... những bom bi, đạn, mìn.

Cuộc sống của con người nơi đây đã quá nhiều gian nan nay đang có cảng Cửa Việt, đường xuyên Á ngang qua những ruộng vườn, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp thì vẫn sừng sững ở phía tây Gio Linh Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn. Giữa một vùng đồi núi rộng lớn, nghĩa trang là nơi yên nghỉ đời đời của hơn mười ngàn liệt sĩ-những người đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước năm nào.

Những nẻo đường Trường Sơn năm xưa gợi nhắc trong chúng tôi về những cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Cũng là nơi chốn đi về của bao yêu thương ngưỡng vọng, nấm mồ của mười cô gái thanh niên xung phong ở tâm điểm của ba nhánh rẽ đi Ba Giang ở Thạch Hà, Nghèn ở Can Lộc và Khe Giao ở Hương Khê của tỉnh Hà Tĩnh đã gây xúc động cho biết mấy con người, tạo nên nhiều huyền thoại về những người con gái mãi mãi tuổi đôi mươi.

Đó là mười cô gái đã ngã xuống với con đường chi viện tiền tuyến khi xưa. Ngã ba Đồng Lộc là túi bom của không lực Mỹ, nơi có mười cô gái trẻ đã bám trụ mặt đường để thông tuyến cho những đoàn xe Giải phóng đã hy sinh cùng một lúc. Hôm ấy, sáng hai mươi bốn tháng bảy năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, mười người con gái can trường ấy của Hà Tĩnh đã làm nên một huyền thoại với những tên tuổi: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Nhỏ, Dương Thị Xuân, Võ Thị Hà, Trần Thị Hường, Trần Thị Rạng, Hà Thị Xanh. Hố bom đã vùi lấp thân thể nhưng sự sống của các cô vẫn còn đó, tên của các cô tỏa sáng trong lòng của mọi thế hệ và các cô mãi mãi tuổi hai mươi với hương bồ kết gợi nhớ khôn khuây.

Nên bây giờ, muôn vạn người vẫn đến Ngã ba Đồng Lộc trong âm vang của những câu thơ cùng chung cảm xúc vĩnh cửu: “Mây trắng qua đây giăng che bóng mát/ Đàn chim qua đây hòa ngân tiếng hót/ Ngọn gió qua đây thơm hương mùa gặt/ Mặt trời qua đây tỏa nắng đồng bằng/ Đã bao mùa hoa, đã bao mùa trăng/ Đã bao mùa đông hắt hiu gió núi/ Đã bao mùa thu trời xanh vời vợi/ Chúng tôi qua đây đứng lặng nghiêng mình/ Mười tên cô gái/ Giọt nắng lung linh/ Tên của mẹ của cha đặt gọi/ Tên cỏ cây, làng quê ấm lòng đồng đội/ Khắc vào ký ức thời gian/ Hiển hiện tháng năm khói lửa đạn bom/ Trong thoảng thơm nén hương nhớ bạn/ Mười cô gái/ Những ngọn đèn thắp sáng” (Lê Hoài Minh).

Có biết bao nhiêu những câu chuyện về các anh hùng liệt sĩ ngời sáng trên trang sử vàng của dân tộc. Chúng tôi rời dải đất kiên trung trong niềm tin trước những hy sinh bất tuyệt ấy, giữa dòng đời rộng lớn này, mãi mãi có khúc tưởng niệm của máu và hoa...

                                                                        Nguyễn Bội Nhiên








 

,