.
70 năm "Nhật ký trong tù":

Bầu trời tự do trong "Ngục trung nhật ký"

Thứ Năm, 12/09/2013, 07:26 [GMT+7]
Trang bìa cuốn Ngục trung nhật ký.
Trang bìa cuốn Ngục trung nhật ký.

(QBĐT) - Sau chấn song sắt của nhà tù Tưởng Giới Thạch, bầu trời tự do bất chợt hiện lên rộng rãi trong đêm lạnh lẽo xứ người. Bài thơ thứ 118 của "Ngục trung nhật ký" (Nhật ký trong tù) đã được Hồ Chí Minh viết ra trong nỗi thao thức của một đêm không ngủ.

Bài "Bất miên dạ". Phiên âm: Mang mang trường dạ bất năng miên,/ Ngã tố tù thi bách kỷ thiên;/ Tố liễu nhất thiên thường các bút,/ Tòng lung môn vọng tự do thiên. Dịch nghĩa: "Đêm không ngủ": Đêm dài mênh mang không ngủ được,/ Ta làm thơ tù đã hơn trăm bài;/ Làm xong mỗi bài thường gác bút,/ Trông qua cửa tù, ngóng trời tự do. Dịch thơ: Năm canh thao thức không nằm,/ Thơ tù ta viết hơn trăm bài rồi;/ Xong bài, gác bút nghỉ ngơi/ Nhòm qua cửa ngục, ngóng trời tự do (Nam Trân dịch).

Bầu trời tự do ấy, trước hết, đó là ước mong của một tù nhân yêu nước cũng là khát khao mãnh liệt của dân tộc mình, đồng bào mình. Bài thơ có ý nghĩa rộng lớn hơn rất nhiều lần nếu không muốn nói nó nằm ngoài câu chuyện không ngủ được trong một đêm tù. Không gian thơ cũng vậy, nó vượt qua những bức tường và chấn song sắt đen đúa của nhà tù để mở ra bao la với hình tượng bầu trời tự do. Từ ô cửa ngục, vút bay lên một ánh nhìn bát ngát, chạm tới mênh mang thiên hà.

Lúc này, tự do chưa thành hiện thực, cho mình và dân tộc mình nhưng đã là vầng sáng vẫy gọi tha thiết những số kiếp lầm than, bị áp bức vươn tới. Cũng muốn nói thêm rằng, đây không phải là lần duy nhất nhà cách mạng - nhà thơ Hồ Chí Minh Tòng lung môn vọng tự do thiên. Hướng tới nền tự do cho Tổ quốc và nhân dân, đương nhiên có cả tự do của mình là điều khắc sâu trong tâm trí Người. Trong lao tù, khát vọng tự do càng bùng lên mãnh liệt và tinh thần ấy tràn đầy trong nhiều bài thơ của Hồ Chí Minh.

Trước đây, cũng trong nhà tù, Bác đã trải qua cảnh: Canh một...canh hai...lại canh ba/ Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành/ Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.

Nguyên do làm cho Người thao thức đâu chỉ là chuyện riêng tư mà chủ yếu là lo về việc nước, việc dân. Biểu tượng của một Nước Việt Nam mới: Sao vàng năm cánh hiện lên trong giấc mộng của Bác. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác, Tổ quốc, nhân dân luôn ở trong trái tim Người.

Đọc lại Nhật ký trong tù, tôi thấy tinh thần tự do xuyên suốt trong tập thơ của Bác. Gông cùm, song sắt không trói buộc, khóa cột lại được tự do của Người. Đây là một tuyên ngôn về tự do được viết bằng thơ của Hồ Chí Minh: Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/ Muốn nên sự nghiệp lớn/  Tinh thần cần phải cao.

Vượt qua được hoàn cảnh éo le để sống và tiếp tục chiến đấu, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng là sự lựa chọn chính đáng. Trong cảnh Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt/ Sử dư tiều tụy thập niên đa (Sống chẳng ra người vừa bốn tháng/ Khiến mình tiều tụy còn hơn mười năm) với những khó khăn như: Bốn tháng ăn không no,/ Bốn tháng ngủ không yên,/ Bốn tháng không thay áo,/ Bốn tháng không tắm rửa và vì thế nên: Răng rụng mất một chiếc,/ Tóc bạc thêm mấy phần,/  Gầy đen như quỷ đói,/ Ghẻ lở mọc đầy thân Hồ Chí Minh vẫn Kiên trì và nhẫn nại,/ Không chịu lùi một phân,/ Vật chất tuy đau khổ,/ Không nao núng tinh thần. Lòng yêu tự do, khát vọng tự do đã giúp Bác không chùn bước trước cam go, không sa ngã trước cám dỗ, không nghiêng ngã trước thử thách để Bất động dao tinh thần luôn giữ vững khí tiết, phẩm giá của mình.

Tinh thần tự do vừa là khát vọng, vừa là nội lực trong con người Hồ Chí Minh. Đó là khí phách, tâm hồn của một người luôn làm chủ mình trong mọi tình thế. Rất nhiều bài thơ ở Nhật ký trong tù nói lên được điều này một cách nghệ thuật. Hồ Chí Minh quên mình để hòa đồng vào những cái rộng lớn hơn như thiên nhiên, đất nước và nhân dân. Nhân dân nên hiểu ở nghĩa rộng lớn hơn là đồng bào mình và tất cả những người lao động bị áp bức, đói khổ, đày ải trên thế gian này. Qua thơ, Hồ Chí Minh có những cảm thông, chia sẻ rất nhân ái với những người cùng khổ, những số phận hẩm hiu. Đấy là những tiếng kêu xót xa, thương cảm của một trái tim nhân hậu với những kiếp lầm than trong cõi người khốn khó, đầy rẫy bất công, áp bức.

Với người làm đường, Bác viết: Dãi nắng dầm mưa chẳng nghỉ ngơi/ Phu đường vất vả lắm ai ơi/ Ngựa xe hành khách thường qua lại/ Biết cảm ơn anh có mấy người.  Thiết nghĩ, chẳng còn gì gần hơn thế, thật hơn thế sự đồng cảm của con người với nhau. Hồ Chí Minh nghe được trong tiếng khóc của em bé theo mẹ vào tù bởi bố trốn lính: Oa...oa...oa.../ Cha trốn không đi lính nước nhà/ Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi/ Phải theo mẹ đến ở nhà pha.

Những câu thơ xé lòng như thế dẫu viết ra từ các năm 42-43 của thế kỷ trước vẫn làm cho ta vô cùng xúc động. Sự tàn bạo ngự trị khắp mọi nơi, nỗi thống khổ oan khuất của dân lành đâu đâu cũng có, thi ca không thể vô tâm thảnh thơi ngâm vịnh thù tạc được. Với Bác, thơ là cuộc sống, là tấm lòng, là sự nâng dìu, an ủi những con người đau khổ.

Bài thơ Bạn tù thổi sáo là một trong những thi phẩm hay của Hồ Chí Minh: Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu/ Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu/ Muôn dặm quan hà khôn xiết nỗi/ Lên lầu ai đó ngóng trông nhau. Tiếng sáo vi vu mang giai điệu quê hương thân quen tha thiết ở trong cảnh tù tội, chia cách cũng phải chuyển điệu sầu thê lương. Ở nơi xa, người vợ hình như đã nghe được điệu sầu ấy, buồn bã bước lên thêm một bậc cao nữa để ngóng trông về người chồng yêu dấu của mình. Quả là một thi ảnh đầy ám ảnh, ấn tượng. 

Khí thơ trong “Nhật ký trong tù” thấm sâu tinh thần tự do cao cả. Ung dung, tự tại chính đó là biểu hiện của tự do. Tự do, làm cho Người bay đến với thiên nhiên, hòa vào nước non, trăng sao, cây cỏ muôn trùng. Tình yêu thiên nhiên trong thơ Bác chính là thông điệp của tự do.

Trong một lần chuyển nhà tù, đêm hôm khuya khoắt, cất bước trên đường xa, gió thu từng cơn, từng cơn lạnh lẽo thổi như táp vào mặt, Hồ Chí Minh vẫn trải lòng mình với tiếng gà gáy canh một Nhất thứ kê đề dạ vị lan, vẫn ngước mắt nhìn chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san và dự cảm được bình minh (cả nghĩa đen: ban sớm lẫn nghĩa bóng: sự thành công của cách mạng) đang đến rất gần: Phương đông màu trắng chuyển sang hồng/ Bóng tối đêm tàn, sớm sạch không;/ Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,/ Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng. Hồ Chí Minh tìm thấy trong thiên nhiên tiếng hát tự do; sông núi trăng sao hoa cỏ là bạn bầu tri âm và thật diệu kỳ những trói buộc, phiến toái đã bị vô hiệu hết. Bởi thế, sợi dây gai trói tù nhân thành Rồng uốn quanh chân với tay và ghẻ lở mọc đầy thân thì trông như hoa gấm...

Tôi muốn dừng lại lâu hơn một chút ở bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng) trong tập "Nhật ký trong tù": Ngục trung vô tửu diệc vô hoa/ Đối thử lương tiêu nại nhược hà?/ Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,/ Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Bài thơ mang vẻ đẹp trong sáng tinh khiết vô cùng. Trong tù không rượu cũng không hoa, đấy là hoàn cảnh thực.

Mà xưa nay, thì rượu và hoa vẫn là những thứ tạo men, gây hứng cho thi nhân vào những đêm trăng đẹp. Bởi thế, nhà thơ Hồ Chí Minh mới đặt một câu hỏi: Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào? Cứ tưởng rằng, cứ ngỡ rằng chẳng có gì cả. Người trong lao tù tối tăm, trăng trên bầu trời vằng vặc cứ thế vời vợi xa nhau. Không! Tiếng hát tự do đã vút bay lên, thế mới có cảnh tượng rất đẹp này: Người hướng ra trước song ngắm trăng sáng và từ ngoài khe cửa, trăng ngắm nhà thơ. Người với trăng-trăng với người bất chấp hoàn cảnh đã tìm về nhau, xích lại gần nhau trong mối đồng cảm tri âm không tả hết. Người hướng về trăng, trăng ngắm người - một nhà thơ, đó là mối quan hệ bầu bạn đầy thấu hiểu, thông tỏ. Không còn một rào cản, ngăn cách nào nữa giữa hai đối tượng. Tâm hồn nhà thơ đã được giải phóng hoàn toàn, tự do tỏa ánh sáng dịu dàng cả trong và ngoài lao ngục.

Bảy mươi năm rồi kể từ khi Hồ Chí Minh viết “Ngục trung nhật ký” trong lao tù của Tưởng Giới Thạch (từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến 10 tháng 9 năm 1943). Hơn 130 bài thơ viết bằng chữ Hán của Người trong cuốn sổ nhỏ màu xanh bìa có vẽ đôi tay bị xiềng đã trở thành tác phẩm văn học nổi tiếng và hiện vật lịch sử quý giá của đất nước Việt Nam. Không ai, không gì có thể phủ nhận được giá trị tư tưởng và nghệ thuật của “Nhật ký trong tù”. Tác phẩm ấy cùng nhiều bài thơ khác của Người đã minh chứng Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi vẫn tin rằng, không những bây giờ mà rất lâu sau, những bài thơ trong “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh vẫn bay trên đôi cánh tự do.

Nguyễn Hữu Quý