Cháo canh Ba Đồn
(QBĐT) - Ba Đồn, nơi tôi sinh ra lớn lên là một làng quê trù mật, ôm bờ bắc sông Gianh. Mảnh làng này đã có lịch sử trên ba trăm năm. Làng Phan Long xưa thị trấn Ba Đồn nay có năm "báu vật" làm nên "quốc hồn quốc túy" của vùng đất này. Đó là chợ Ba Đồn, đình làng Phan Long, nước Giếng Cau, rượu Tượng Sơn và cháo canh Ba Đồn.
Cháo canh Ba Đồn có từ lâu lắm rồi, có người bảo nó có từ khi lập làng kìa. Hồi mệ ngoại tôi chưa mất, tôi hỏi mệ cái món cháo canh Ba Đồn có từ khi mô rứa mệ?. Mệ bảo, mệ cũng không biết có từ khi mô, nghe ông cố kể lại khi ông sinh ra đã có người bán cháo canh rồi. Có nhiều người bảo cháo canh Ba Đồn xuất phát từ Huế, nhưng cũng có nhiều người lại bảo chính cụ Nguyễn Hàm Ninh đã đưa món cháo canh Ba Đồn vào Huế. Tôi vẫn tin cái giả thuyết thứ hai, cho dù Huế là vùng đất ẩm thực.
Cháo canh có nguồn gốc từ món ăn người nghèo. Câu ca xưa "Quảng Bình là đất Ô Châu- Ai đi đến đó quảy bầu về không" đã phần nào nói lên cái nghèo đói, khốc liệt của vùng đất cát trắng nắng chang chang này. Một món ăn biến hóa khôn lường, khi đói là cháo, khi no lưng bụng lại trở thành canh.
Người dân nghèo Ba Đồn bám lưng cày cuốc, khai hóa vùng đất này cũng đã nhờ bát cháo canh làm ấm bụng. Ngày xưa, nấu cháo canh đem ra chợ bán chủ yếu là dân làm ruộng ở vùng xóm Cau. Nguyên liệu nấu cháo canh chủ yếu là bột gạo và cá. Ở Ba Đồn cháo canh chỉ nấu với cá thôi, không trộn lẫn với gì khác được, bỏ tôm thịt vào là dân ăn tẩy chay ngay. Cá thôi, cá gì cũng được, cá càng tanh cháo canh càng ngon. Cứ mỗi buổi sáng năm sáu gánh cháo canh của con gái nhà mệ Yêm, mệ Hồng, mệ Thí... tập trung ở đây phục vụ bữa sáng cho dân thị trấn.
![]() |
Ngày xưa, cháo được nấu trong nồi quân dụng to ơi là to, nấu một lần, sợi bột to, cháo hơi sệt sệt, một gánh cháo đầy hai thùng pháo sáng, gánh ra chợ vài tiếng đồng hồ là đã hết veo. Cháo canh Ba Đồn thường phải đi kèm thêm ram và rượu. Ram được làm từ thịt lợn, bằm nhỏ bỏ thêm gia vị, dùng bánh mè xát cuốn lại và rán. Bây giờ thường dùng dầu thực vật để rán chứ ngày xưa thì rán bằng mỡ lợn. Ram ăn với cháo bánh canh như người Hà Nội ăn phở với quẩy. Mùa đông cũng như ngày hè, dân thị trấn hay khách đi chợ điểm tâm một bát cháo canh, làm vài cái ram, nhâm nhi thêm vài ly rượu nhỏ, dân dã mà đời cứ như lên tiên.
Chị Đôộng bây giờ trở thành một thương gia nổi tiếng trong thị trấn đi lên từ gánh cháo canh đó. Thời chiến tranh, gia đình chị phải sơ tán trên cát, mẹ chị đẻ chị ra trên đôộng cát, nên ông bố chị lấy từ "đôộng" đặt luôn cho chị. Gánh cháo chị ngày xưa ngon lắm, khách đến ăn tấp nập. Anh Lý chồng chị bảo, hồi trước mình mê cháo canh Ba Đồn lắm. Dù ở xa cách Ba Đồn trên hai chục cây số nhưng hễ có điều kiện về Ba Đồn là mình tìm đến cháo canh nhất là gánh cháo canh ả Đôộng. Mê cháo canh, mê luôn người bán cháo, anh theo ả Đôộng về nhà đâm bột nấu cháo. Và rứa là thành vợ thành chồng!
Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in và có thể suốt cuộc đời này bát cháo canh đó cứ sẽ ám ảnh mãi với tôi. Đó là bát cháo đặc biệt mà tôi nghẹn ngào nuốt với một cảm giác khó tả. Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nhà tôi nghèo lắm, cha và mẹ là giáo viên trường làng, lương không đủ mua gạo cho bầy con ăn đủ tháng. Ngôi trường của cha dựng lên dạy lũ trẻ trong làng nằm trên đỉnh đồi cát trắng ở phía bắc thị trấn. Mẹ trở dạ sinh thằng em út trong một buổi sáng đầu đông.
Sáng đó, mẹ tôi chưa ăn uống gì thì bụng đau dữ dội. Cha hốt hoảng còn bà nội thì bảo đúng ngày rồi, mẹ mày trở dạ sinh em đó. Bà giục cha nấu nước sôi, đi mời bà mụ sang đỡ đẻ cho mẹ. Bà nội dí vào tay tôi cái âu nhôm hay đựng cháo và mấy đồng tiền. Bà bảo, mày còn đứng đó làm gì nữa, chạy ra chợ mua bát cháo canh về để cho mẹ mày ăn, có sức mà sinh em. Tôi cầm lấy âu đựng cháo chạy ngay xuống chợ để mua cháo về cho mẹ. Hồi đó được đi chợ là cả một niềm tự hào của lũ trẻ. Tôi cũng chỉ được mẹ dẫn đi chợ vài lần. Mỗi lần được đi chợ là tôi ngắm nghía đủ thứ, thế nhưng lần này thì không, cắm cúi đi không dám ngó nghiêng nhìn.
Cô hàng bán cháo canh hỏi: - Cháu mua cho ai thế, sao không ngồi đây ăn. Cô chìa ra cho tôi cái đòn (đó là cái ghế do hai miếng gỗ và một tấm ván nhỏ đóng thành để ngồi thay cho ngồi bệt xuống đất). Tôi xua tay: - Không, cháu mua cho mẹ cháu, cháu không ăn đâu. Mẹ cháu sắp sinh em ạ. O múc nhanh cho cháu.
Mua được bát cháo, tôi đi nhanh như chạy để kịp đưa bát cháo canh về cho mẹ ăn có sức trước lúc vượt cạn. Tôi về tận nhà thì trong nhà đông đúc người, bà mụ đang rửa tay thấy mình bảo: "Mày từ nãy đến chừ đi đâu thế, mẹ mày sinh đứa em kháu khỉnh lắm. Mày vào nhìn mặt nó đi". Mình giật mình ngơ ngác, đi mua cháo cho mẹ ăn để mẹ vượt cạn sinh em, thế mà về đến nhà thì mẹ đã sinh rồi. Tự nhiên đôi mắt mình chảy dài những giọt nước mắt cay xè, ấm ức một nỗi ân hận.
Bà nội xoa đầu tôi: "Không phải lỗi mày đâu, do mẹ mày đẻ nhanh quá, mẹ mày giờ không ăn được cháo này rồi. Mày ăn đi". Mẹ tôi đã dồn hết sức lực để qua cơn vượt cạn. Mẹ gần như kiệt sức. Bà giơ tay quệt những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán, trìu mến nhìn tôi: "Con ăn cháo đi, chứ để lâu cháo nó tanh đó, mẹ bây giờ không ăn được mô vì ăn vào sẽ ảnh hưởng đến sữa cho thằng cu em bú".
Tôi cầm âu cháo còn nóng hổi, hương thơm của mùi bột, mùi hành, mùi cá bốc lên thơm phức mà không tài nào ăn được. Cái thìa cứ run lên, đây là bát cháo mà tôi nhớ mãi. Tôi ăn bát cháo canh này mà nước mắt cứ chảy tràn.
Đầu tháng bảy năm trước, tôi bị bệnh nặng phải điều trị dài ngày tại Bệnh viện Trung ương Huế. Trước khi lên bàn mổ, trước cái thời khắc của sự sống và cái chết, vợ tôi hỏi: "Anh bây giờ thèm ăn cái gì nhất, để em mua?". Tôi trả lời không một chút suy nghĩ: "Giờ mà có bát cháo canh Ba Đồn thì tuyệt làm sao?". Thế là vợ tôi phải đôn đáo, ngược ra quê gần hai trăm cây số để mua bột, mua cá và cả ram đem vào bệnh viện nấu cho tôi bát cháo. Vợ tôi nhìn tôi ăn cháo canh một cách say sưa, mắt đỏ hoe.
Mùi hành phi, mùi ram rán cứ trộn lẫn vào nhau thành một mùi hương cháo canh Ba Đồn mà ai đã thưởng thức một lần không thể nào quên. Nhớ nhất vẫn là những người con Ba Đồn sống xa xứ.
Phạm Phú Thép
