.

Một chuyến đi để được gặp lại...

Thứ Ba, 16/07/2013, 15:44 [GMT+7]

LTS:   Nhà văn Thái Vũ tên thật là Bùi Quang Đoài, quê xã Quảng Tùng (Quảng Trạch, Quảng Bình) sinh ngày 31-12-1928, hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, đã từ trần hồi  10 giờ 50 phút ngày 3-7-2013 tại TPHCM, hưởng thọ 86 tuổi. Ông là tác giả của gần 20 cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về những thời kỳ đầy bi tráng của đất nước. Tưởng nhớ nhà văn-một người con của Quảng Bình, chúng tôi giới thiệu bài viết của nhà văn Nguyễn Khắc Phê, một người bạn gần gũi với ông. 

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhà văn Thái Vũ.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhà văn Thái Vũ.

Với tôi, tin nhà văn Thái Vũ (Bùi Quang Đoài) ra đi không thật đột ngột. Chỉ riêng việc hai năm nay, không thấy ông ghé thăm Huế, Quảng Bình, Thanh Hóa như trong những chuyến ra Bắc vào Nam trước đây đã là sự “báo động” sớm về một cuộc “chia tay” ngày một gần lại của nhà văn vốn nặng lòng với dải đất miền Trung gian khó.

Còn nhớ, trong dịp ra Hà Nội dự Đại hội Nhà văn Việt Nam mấy năm trước, anh Thái Vũ ghé Huế, kéo tôi đến nhà Hoài Nguyên (đồng đội cũ của Thái Vũ từ nửa thế kỷ trước tại chiến trường Khu V) tâm sự. Nói đúng ra thì tôi đến để “nghe lóm” hai cựu chiến binh trầm ngâm nhắc lại chuyện kháng chiến “chín năm” sôi nổi. Tôi nhắc lại chi tiết “ngoài văn chương” này để thấy, từ Bùi Quang Đoài cho đến Thái Vũ, vẫn luôn luôn là một con người chung thủy với cách mạng - kể cả khi anh không may bị một “tai nạn văn chương”.

Hơn thế, có thể nói anh thấm đượm chất cách mạng “từ trong trứng”! Khi anh chưa ra đời thì ông cụ thân sinh đã nếm mùi ngục tù đế quốc tại Khám lớn Sài Gòn. Cụ quê ở “Xứ Ròn-Di Luân” Quảng Bình, vào dạy học ở Thủ Dầu Một, tham gia vụ để tang cụ Phan Chu Trinh nên bị bắt. Năm 1940, cụ lại bị giam ở nhà lao Vinh... Thân mẫu của anh quê làng An Truyền (Thừa Thiên-Huế) lại là cháu Đoàn Trưng-Đoàn Trực - thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa “Chày Vôi”. Vậy nên, như là lẽ đương nhiên, sau Cách mạng tháng 8-1945, chàng học sinh Quốc học Huế trở thành lính Trung đoàn Trần Cao Vân, rồi sung vào đoàn quân Nam tiến và từ năm 1948-1950 là giáo viên Trường trung học bình dân quân sự Liên khu 5...

Có thể nói, với một xuất thân như thế, Thái Vũ trở thành nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng quả là sự sắp đặt của tạo hóa. Từ tiểu thuyết đầu tay “Cờ nghĩa Ba Đình”, rồi “Biến động”, “Huế 1885”, và “Những ngày Cần vương”... đến “Xứ Ròn-Di Luân”, Thái Vũ đã công bố gần 20 tác phẩm, với nhiều ngàn trang.

Để có những trang sách đó, trong mấy chục năm qua, Thái Vũ đã bỏ không biết bao nhiêu là công phu đi tìm tư liệu, nhiều lần trở lại những vùng đất từng ghi dấu những sự kiện lịch sử như Ba Đình (Thanh Hóa), Cố đô Huế, miền Tây Quảng Bình - nơi vua Hàm Nghi và những người “Cần Vương” đã kiên cường chống lại bọn giặc xâm lược Pháp sau năm 1885 – rồi “Xứ Ròn- Di Luân” – quê hương nhà văn và cũng là tên một tác phẩm về cuối đời của Thái Vũ... 

Đúng hai năm trước, cũng vào tháng 7, có lẽ là “linh cảm” về một ngày “ra đi” không còn xa nữa, trên giường bệnh, Thái Vũ đã gửi cho tôi một lá thư kèm tập tư liệu dày gồm hầu như tất cả những bài viết về ông, những ảnh và bút tích gắn với các sự kiện trong cuộc đời không thiếu những thăng trầm của ông. Đến nay thì có thể nói đó là lời “di chúc” về nghiệp văn của ông, là lời tri ân của ông với đồng đội thời kháng chiến, với bạn đồng nghiệp, với cuộc đời.

Thái Vũ không quên một ai đã từng chia sẻ vui buồn và động viên ông trong quá trình sáng tạo những tiểu thuyết lịch sử, từ vợ chồng Nguyễn Xuân Hoa-Trương Thị Cúc, nhà giáo Tôn Thất Bình ở Huế, đến nhà báo Xuân Ba (báo Tiền Phong), Võ Thu Hương (báo Sài Gòn giải phóng), Nguyễn Tý  (thành phố Hồ Chí Minh), các nhà phê bình Phan Cự Đệ, Nguyễn Đức Đàn, nhà văn Nguyễn Quốc Trung (Văn nghệ Quân đội)...

Đặc biệt, ông đã gửi cho tôi cả 4 bức ảnh chụp với cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong dịp ông được hội kiến với cố Thủ tướng ngày 24-9-1997 và những lời căn dặn, thăm hỏi ân tình của cố Thủ tướng về việc viết tiểu thuyết lịch sử cũng như đời riêng của ông. Thái Vũ cũng ghi lại rất cẩn thận cuộc gặp với Trần Huy Liệu khi nhà sử học góp ý cho ông về cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tay viết về cuộc khởi nghĩa Ba Đình.

Ông cũng không ngại ngần gửi cho tôi nguyên văn bài góp ý thẳng thắn với giáo sư Hoàng Xuân Nhị đăng trên Tập san “Đất Mới” đã khiến ông bị “tai nạn văn chương”, đồng thời kể lại việc Bí thư Đảng đoàn Bộ Văn hoá thời đó là Hà Huy Giáp đã “cứu” ông khi ông bạt tai một người đã vu cho ông là “phản động”; bài tiểu luận công phu của nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thạch viết năm 2010 “bênh vực” quan điểm của Thái Vũ về bài viết “gây sự” năm xưa cũng được ông sao lại nguyên văn...

Nghĩa là Thái Vũ đã không quên ơn một ai, trong đó có các giáo sư danh tiếng mà ông được thụ giáo hồi còn là sinh viên lớp đại học đầu tiên ở miền Bắc như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Thai  Mai, Hoa Bằng..., đã cho ông “vốn liếng” quý báu để bước lên con đường văn chương đầy thử thách. Thái Vũ còn gửi cho tôi bản sao những giấy giới thiệu do Chánh Văn phòng Hội Nhà văn Nguyễn Viết Lãm ký từ năm 1957, để nhà văn trẻ về Thanh Hóa sưu tầm tài liệu viết tiểu thuyết “Ba Đình” cùng thư của thiếu tướng Phan Hàm cử Thái Vũ ra gặp lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi để bàn việc tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm (1946-1996) Trường Lục quân Liên khu V, nơi chàng trai-nhà giáo Bùi Quang Đoài đã sống một thời sôi nổi, nơi đồng đội của anh nhiều người “ra đi không hẹn một ngày về” như Thái Vũ đã viết trong bài “Vọng nàng thơ” sáng tác năm 1947 trên Đường 19 (An Khê)...

Dẫn một câu thơ, chợt nhớ Thái Vũ là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, không phải với tư cách một nhà viết tiểu thuyết lịch sử mà là một nhà thơ. Hẳn không phải là ngẫu nhiên, khi cuối tập tài liệu cuối cùng mà ông gửi cho tôi là bài thơ “Các anh” tưởng nhớ các đồng đội, các liệt sĩ đã hy sinh hồi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp-bài thơ đã in trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1950-1954:
“...Tôi không quên các anh / Với nụ cười hồn nhiên / Với cái nhìn hò hẹn / Với da trẻ rám đen / Với bàn tay mạnh chắc / Với lòng không thắc mắc...// Các anh / Đi mãi không về!..// Đời các anh / Cao như sao Bắc Đẩu / Lòng các anh / Rộng như đất bao la / Tình các anh / Đẹp chan hòa / Như ngàn hoa kết lại / Và mãi mãi / Các anh sống với thời gian.”

Tình cờ, dẫn một bài thơ nhớ ơn các liệt sĩ vào ngày đầu tháng 7 - Tháng 7 cũng là thời điểm cả nước tri ân những người con đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cũng thật tình cờ, Thái Vũ “ra đi” vào đúng ngày ngày 3 tháng 7: ngày này 47 năm trước (ngày 3-7-1966) cả một đội cảm tử của đại đội TNXP 759 anh hùng đã hy sinh cùng một lúc ngay trên con đường mà những người “Cần Vương” đi tìm đường cứu nước năm xưa! Ông không phải “liệt sĩ” nhưng là người có tư cách, có quyền tự hào khi “gặp” những người con đã quên mình vì đất nước trong lịch sử bi hùng của dân Việt, vì ông đã tri ân, ca ngợi họ bằng hàng ngàn trang sách chân thực có sức làm xúc động lòng người.

Phải! Trong chuyến đi rời xa cõi trần, tôi tin là Thái Vũ sẽ gặp lại rất nhiều những con người mà ông đã từng tỏ lòng tri ân, trong đó nhiều nhân vật là liệt sĩ.  Và tôi chợt nghĩ với không ít nỗi băn khoăn: “Không biết là các cụ đang bàn luận những gì về cuộc sống của chúng ta hôm nay - cuộc sống mà các cụ đã cùng nhiều thế hệ đã đổ biết bao tâm trí và xương máu mới xây dựng nên...”

                                                                 Nguyễn Khắc Phê